P/B (Price to Book) cho biết thị giá của một cổ phiếu bằng bao nhiêu lần giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu phổ thông, viết tắt là BVPS. Với BVPS 20.000 đồng và thị giá 16.000 đồng, P/B bằng 0,8 lần. Để hiểu khoảng chênh 4.000 đồng, hãy xem phần vốn sổ sách đó hình thành từ tài sản nào và doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu lợi nhuận từ số vốn ấy.
- Lấy giá mỗi cổ phiếu chia cho BVPS, dùng cùng đơn vị tiền.
- Khi tính BVPS, ghép vốn thuộc cổ đông phổ thông với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành tại cùng ngày báo cáo.
- Khi P/B dưới 1 lần, kiểm tra khả năng thu hồi tài sản và mức sinh lời của vốn.
- Khi so sánh các doanh nghiệp, chọn những công ty có cách tạo doanh thu và cấu trúc tài sản tương tự.
Cách tính P/B từ báo cáo tài chính
BVPS = Vốn chủ sở hữu thuộc cổ đông phổ thông / Số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành. P/B = Thị giá một cổ phiếu / BVPS. BVPS có đơn vị đồng/cổ phiếu. Khi chia hai số cùng đơn vị, kết quả P/B được đọc theo số lần. Hướng dẫn tính P/B của DNSE.
Trên báo cáo hợp nhất, bắt đầu từ phần vốn thuộc chủ sở hữu công ty mẹ. Nếu dùng dòng tổng vốn chủ sở hữu, cần tách lợi ích cổ đông không kiểm soát. Nếu có cổ phiếu ưu đãi được phân loại vào vốn chủ sở hữu, kiểm tra thuyết minh để tách phần vốn tương ứng trước khi tính cho cổ đông phổ thông. Bạn có thể đối chiếu các dòng tài sản, nợ và vốn theo hướng dẫn đọc bảng cân đối kế toán.
Ghi hai mốc riêng vào bảng tính, gồm ngày chốt số liệu kế toán và ngày lấy giá. Ví dụ, bạn có thể dùng giá hôm nay với báo cáo quý gần nhất đã công bố. Nếu giữa hai ngày có đợt phát hành hoặc chia tách cổ phiếu, hãy kiểm tra cả số cổ phiếu và phần vốn thay đổi trước khi ghép dữ liệu.
Ví dụ tính P/B bằng hai cách
Giả sử tại ngày cuối quý, một tập đoàn có tổng tài sản 1.500 tỷ đồng, nợ phải trả 900 tỷ đồng và lợi ích cổ đông không kiểm soát 100 tỷ đồng. Công ty mẹ chỉ có cổ phiếu phổ thông, với 25 triệu cổ phiếu đang lưu hành. Giá dùng để minh họa là 16.000 đồng/cổ phiếu và cơ cấu vốn giữ nguyên đến ngày lấy giá.
| Bước tính | Phép tính | Kết quả |
|---|---|---|
| Vốn chủ sở hữu hợp nhất | 1.500 − 900 | 600 tỷ đồng |
| Vốn thuộc cổ đông phổ thông công ty mẹ | 600 − 100 | 500 tỷ đồng |
| BVPS | 500 tỷ / 25 triệu | 20.000 đồng/cổ phiếu |
| P/B | 16.000 / 20.000 | 0,8 lần |
Có thể kiểm tra chéo bằng vốn hóa. Với 25 triệu cổ phiếu giá 16.000 đồng, vốn hóa là 400 tỷ đồng. Chia 400 tỷ cho 500 tỷ đồng vốn thuộc cổ đông phổ thông vẫn được 0,8 lần. Nếu bảng tính ra khoảng 0,67 lần, hãy kiểm tra xem bạn có chia 400 tỷ cho toàn bộ 600 tỷ vốn hợp nhất hay không. Phần chênh 100 tỷ thuộc về cổ đông khác tại công ty con.
P/B dưới 1 lần cho biết điều gì?
Trong ví dụ trên, giá thấp hơn BVPS 20%. Câu hỏi cần trả lời là 500 tỷ đồng vốn ghi sổ có thể chịu tổn thất bao nhiêu nếu một khoản phải thu lớn khó đòi. Hãy đọc thuyết minh về tuổi nợ, dự phòng đã ghi nhận và khả năng thu hồi trước khi chọn con số để thử.
Giả sử phát sinh thêm một khoản tổn thất làm giảm đúng 100 tỷ đồng vốn thuộc cổ đông phổ thông sau mọi ảnh hưởng thuế và phân bổ. Giữ nguyên giá cùng số cổ phiếu để tách riêng tác động của khoản tổn thất. Vốn còn 400 tỷ đồng, BVPS còn 16.000 đồng và P/B tăng từ 0,8 lên 1 lần. Khoảng chênh giá so với sổ sách đã biến mất dù giá đứng yên. Đây là kịch bản giả định. Khi áp dụng, chỉ tính phần thiệt hại tăng thêm ngoài dự phòng đã ghi nhận.
Giá trị thu về nếu thanh lý còn phụ thuộc giá bán tài sản, chi phí và các nghĩa vụ cần thanh toán. Một nguyên nhân khác khiến thị trường trả giá thấp là doanh nghiệp giữ nhiều vốn nhưng kiếm ít lợi nhuận qua nhiều năm. Hai trường hợp dẫn đến cùng một P/B, song cần đọc những phần khác nhau trong báo cáo.
Vì sao P/B của ngân hàng khó so trực tiếp với công ty phần mềm?
Với ngân hàng, khoản cho vay và dự phòng là những đầu mối để đánh giá phần vốn trên sổ sách. Với doanh nghiệp phần mềm, đội ngũ, quan hệ khách hàng và khả năng gia hạn hợp đồng có thể đóng góp đáng kể vào lợi nhuận dù bảng cân đối chỉ phản ánh một phần những lợi thế này. Vì vậy, mức P/B cao hơn của công ty phần mềm tự nó chưa đủ để xếp ngân hàng vào nhóm hấp dẫn hơn. DNSE giải thích giới hạn của BVPS.
| Doanh nghiệp đang đọc | Kiểm tra gì trước khi so P/B? |
|---|---|
| Ngân hàng | Nợ xấu, dự phòng và lợi nhuận tạo được trên vốn qua nhiều kỳ. |
| Nhà sản xuất | Tuổi hàng tồn kho, khả năng thu tiền khách hàng, công suất thực dùng của nhà máy. |
| Công ty phần mềm | Tỷ lệ khách gia hạn nếu có công bố, chi phí nhân sự và dòng tiền từ hợp đồng. |
Ngay cả trong một ngành, hãy đối chiếu hiệu quả sử dụng vốn, đòn bẩy và rủi ro tài sản. Nếu một nhà máy thường xuyên chạy dưới công suất, một đồng vốn ghi sổ có thể tạo ra ít lợi nhuận hơn nhà máy tương đương đang sử dụng hết công suất. Để nối các dữ liệu ấy với mô hình kinh doanh, xem quy trình phân tích cơ bản cổ phiếu.
Khi nào nên dừng so sánh P/B?
Khi vốn thuộc cổ đông phổ thông bằng 0, phép chia để tính P/B không xác định. Nếu vốn âm, phép chia cho ra số âm, làm mất ý nghĩa của cách xếp hạng theo mức chiết khấu trên vốn sổ sách dương. Khi đó, nên quay về nguyên nhân lỗ lũy kế, lịch trả nợ và khả năng tạo tiền.
Với vốn dương, P/B giúp so giá với vốn tại một thời điểm. Nếu muốn biết thị trường đang trả bao nhiêu cho lợi nhuận trong một kỳ, dùng P/E và ghi rõ kỳ lợi nhuận. Xem hai ví dụ tính P/E và phân biệt P/E và P/B của Vietcap.
Nguồn được kiểm chứng ngày 06/11/2026. Các số liệu trong ví dụ là giả định để người đọc tự kiểm tra phép tính.